NUÔI TÔM THẺ CHÂN TRẮNG MẬT ĐỘ CAO

  • Thứ sáu, 26/06/2020, 15:35 GMT+7
  • Lượt xem: 223

Giới thiệu

Mật độ thả là một yếu tố quyết định mức độ công nghệ và đầu vào cần thiết trong một hệ thống nuôi. Việc thả giống theo khả năng của môi trường có thể ảnh hưởng đến hệ thống nuôi và một trong những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại do tải lượng chất thải vượt quá khả năng đồng hóa của môi trường nước. Nghiên cứu này nhằm mục đích thu thập dữ liệu và thông tin về hiệu suất nuôi tôm thẻ chân trắng siêu thâm canh với mật độ thả khác nhau để xác định mật độ thả tối ưu khi nuôi siêu thâm canh. Hy vọng rằng việc áp dụng tối ưu mật độ thả sẽ tác động đến năng suất và lợi nhuận tối đa với một hệ thống sản xuất bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được lấy từ các ao ở Balusu, Barru Regency, Nam Sulawesi. 3 ao 1.600 m2 được trang bị đầy đủ hệ thống sục và 1 ao 1.600 m2 được sử dụng làm bể chứa. Công suất sục khí (HP) trong ao được xác định dựa trên sinh khối tôm để duy trì một cách tối ưu.

Bơm nước vào ao với mức 1 m, sau đó sử dụng vôi Dolomite 20 ppm, Chlor 40 ppm, Ure 32 kg/ao, sinh vật phù du cho phép phát triển trong 2 tuần và sử dụng men vi sinh với liều 75 g/ao.

PL-10 đã được chứng nhận không có WSSV, Taura và IMNV. Mật độ thả là 750 con/m2 (ao A), 1.000 con/m2 (ao B) và 1.200 con/m2 (ao C).

Thức ăn có hàm lượng protein 40% được cung cấp thủ công cho đến ngày thứ 60, sau đó thức ăn được cung cấp với các công cụ tự động bắt đầu từ ngày 61 cho đến khi thu hoạch. Liều lượng thức ăn được điều chỉnh theo sự phát triển của tôm và tình trạng tôm trong ao.

Trong quá trình thử nghiệm, việc thay nước và xử lý chất thải diễn ra thường xuyên theo tình trạng ao nuôi. Chế phẩm sinh học được áp dụng theo quy trình vận hành tiêu chuẩn và liều lượng được điều chỉnh theo sự phát triển của tôm và tổng mật độ vi khuẩn. Tổng cộng có 100 con tôm được sử dụng làm mẫu. Dữ liệu cân định kỳ tôm được sử dụng để tính toán nhu cầu thức ăn hàng ngày.

Các thông số chất lượng nước bao gồm nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan và pH được theo dõi hàng ngày, TSS, BOT, TAN, nitrite, nitrate, phosphate được đo 2 tuần/lần.

Thu hoạch được thực hiện một phần bằng 20-30% sinh khối tôm vào ngày thứ 70 và 90 của bảo trì, trong khi tổng thu hoạch được thực hiện vào ngày thứ 105. Dữ liệu sản xuất, tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (RKP), nhu cầu nước, nhu cầu điện và sự đa dạng của tôm được tính toán khi kết thúc nghiên cứu. Kích cỡ tôm khi thu hoạch được xác định dựa trên việc lấy mẫu nhiều nhất là 20 kg, sau đó tính số lượng cá thể là một ước số.

Dữ liệu được phân tích để xác định ảnh hưởng của mật độ thả đến phản ứng sinh học của tôm và đặc điểm môi trường của nước ao. Phân tích chi phí được thực hiện để xác định mức lợi nhuận từ các hoạt động nuôi tôm thả chân trắng siêu thâm canh. Thức ăn có hàm lượng protein 40% được cung cấp thủ công cho đến ngày thứ 60, sau đó thức ăn được cung cấp với các công cụ cho ăn tự động bắt đầu từ ngày 61 cho đến khi thu hoạch. Liều lượng thức ăn được điều chỉnh theo sự phát triển của tôm và tình trạng tôm trong ao.

Quản lý nước bao gồm xử lý bùn thải từ hệ thống thoát nước trung tâm và thay nước theo điều kiện môi trường nước ao. Chế phẩm sinh học được áp dụng theo quy trình vận hành tiêu chuẩn (SOP) và liều lượng được điều chỉnh theo sự phát triển của trọng lượng tôm và tổng mật độ vi khuẩn. Các biến được quan sát bao gồm tăng trưởng tôm được đo 5 ngày/lần bằng cách cân tôm bằng cân điện tử có độ chính xác 0,01g. Tổng số 100 con tôm thu được sử dụng làm mẫu. Dữ liệu cân định kỳ cho tôm được sử dụng để tính toán nhu cầu thức ăn hàng ngày.

Các thông số chất lượng nước bao gồm nhiệt độ, độ mặn, oxy hòa tan và pH được theo dõi hàng ngày, TSS, BOT, tổng nitơ amoni (TAN), nitrite, nitrate, phosphate được đo 2 tuần/lần trong. Thu hoạch được thực hiện một phần bằng 20-30% sinh khối tôm trong ngày thứ 70 và 90, tổng thu hoạch được thực hiện vào ngày thứ 105. Dữ liệu sản xuất, tỷ lệ sống, tỷ lệ chuyển đổi thức ăn (FCR), nhu cầu nước, nhu cầu điện được tính khi kết thúc nghiên cứu. Kích cỡ tôm khi thu hoạch được xác định dựa trên việc lấy mẫu nhiều nhất là 20 kg, sau đó tính số lượng cá thể là một ước số.

Kết quả

Bảng 1. Hiệu suất nuôi siêu thâm canh tôm thẻ chân trắng

Biến

Mật độ thả (con/m2)

750

1.000

1.200

Trọng lượng cuối cùng (g/con)

15,55

16,33

15,48

Tỷ lệ sống (%)

87,3

82,9

79,1

Tăng trọng trung bình hàng ngày (g/ngày)

0,19

0,21

0,2

Sản lượng (kg/ao)

7.862

10.699

12.163

Năng suất (kg/m2)

7,9

10,7

12,2

FCR

1,4

1,36

1,55

Điện sử dụng (KW/kg tôm)

3,01

2,5

2,25

Nước sử dụng (m3/kg tôm)

2,5

1,5

1,45

Công suất quạt nước (kg/hp)

262

669

640

Chi phí (Rp/kg tôm)

507,26

673

806,5

 

Chất lượng nước

Trong thời gian nghiên cứu, nhiệt độ nước dao động trong khoảng 25,5 - 31,5°C với giá trị trung bình của 3 ao là 28,15 ± 1,05°C. Tôm thẻ chân trắng sẽ phát triển tốt ở nhiệt độ nước 28 - 32°C. Oxy hòa tan dao động từ 0,5 - 10,5 ppm với giá trị trung bình của 3 ao là 5,50 ± 1,3 ppm. Oxy hòa tan trở thành một trong những biến số chất lượng nước quan trọng nhất để duy trì sự sống của tôm. Do đó, hệ thống sục khí là điều quan trọng nhất trong hệ thống nuôi tôm, cung cấp oxy hòa tan trong nước ao cho sự sống của tôm và hỗ trợ quá trình phân hủy hiếu khí các chất hữu cơ và quá trình nitrate hóa của vi khuẩn.

Độ mặn của nước ao dao động từ 22,5 - 22,9 ppt khi bắt đầu thả tăng lên 28,5 - 29,9 ppt nhưng sự thay đổi này không ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của tôm. Giá trị độ mặn trung bình của 3 ao là 25,6 ± 2,2 ppt. Duy trì độ pH nước hàng ngày trong ao nuôi tôm siêu thâm canh là điều bắt buộc để ổn định chất lượng nước. Nếu độ pH của nước có thể được duy trì trong phạm vi biến đổi <1, các biến số chất lượng nước khác không bị dao động và ở trong điều kiện phù hợp với tôm. Trong quá trình nuôi tôm, pH nước ao dao động từ 6,5 - 8,5 với giá trị trung bình hàng ngày của 3 ao là 7,5 ± 0,2.

Trong nuôi tôm siêu thâm canh, sự bài tiết TAN xảy ra cao, vì tôm sử dụng protein làm nguồn năng lượng. Giá trị của thức ăn N trong nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ thả 500 con/m2 dao động từ 38,75 - 42,4%; có nghĩa là hơn 60% thức ăn sẽ bị lãng phí trong môi trường. N2 hữu cơ trong phần còn lại của thức ăn và phân sau đó sẽ tạo thành TAN sau khi trải qua quá trình phân hủy bởi vi khuẩn. TAN là độc hại nếu nó tích lũy ở một hàm lượng nhất định, do đó trong nuôi trồng thủy sản thâm canh thường xuyên phải thay nước để loại bỏ TAN. Thức ăn được sử dụng có hàm lượng protein 35 - 40%, do đó đủ để đóng góp đáng kể vào nồng độ TAN đạt đến mức 0,0675 - 18,9225 ppm. Sau đó, quá trình nitrate hóa trở thành một yếu tố chính và vi khuẩn nitrate hóa nhanh chóng chuyển đổi nitơ amoniac thành nitrate. Nồng độ amoniac trên 4 hoặc 5 ppm sẽ gây độc cho tôm. Trong nghiên cứu này, nồng độ nitrite nằm trong khoảng 0,0062 - 40,2 ppm và nitrate trong khoảng 0,0795 – 54,85 ppm, nitrate không gây độc cho tôm ở nồng độ dưới 50 ppm.

Kết luận và đề xuất

Nuôi tôm thẻ chân trắng với mật độ thả cao là khả thi về mặt kỹ thuật, lợi nhuận kinh tế và được chấp nhận. Dựa trên thời gian hoàn vốn, tỷ lệ R/C và BEP, mật độ thả 1.000 con/m2 tạo ra hiệu suất tốt nhất và được coi là khả thi nhất khi áp dụng.

Lược dịch: Trần Thị Thúy Quyên

Ý kiến bạn đọc