KÍCH THÍCH SINH SẢN NHÂN TẠO CÁ CHỐT BÔNG PSEUDOMYSTUS SIAMENSIS

  • Thứ năm, 15/10/2020, 14:00 GMT+7
  • Lượt xem: 32

Đặt vấn đề

Họ cá ngạnh Bagridae là một trong những họ cá lớn nhất ở châu Á. Các loài trong họ cá ngạnh được quan tâm đặc biệt do có nhiều loài có giá trị làm cảnh so nhiều loài cá da trơn châu Á khác. Đã có một số công trình nghiên cứu trong và ngoài nước về sinh sản nhân tạo các loài cá ngạnh có kích thước nhỏ và có khả năng làm cảnh, chủ yếu thuộc giống Mystus. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào về kích thích sinh sản và sản xuất giống nhân tạo cá chốt bông.

Việc nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng cho sinh sản nhân tạo cá chốt bông trong điều kiện nuôi nhốt của các loại chất kích thích sinh sản khác nhau là rất cần thiết. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo và phát triển nghề nuôi cá chốt bông, từ đó góp phần đa dạng hóa đối tượng thủy sản nuôi và khôi phục nguồn lợi đối tượng này trong tự nhiên.

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

Cá bố mẹ được chọn nuôi vỗ và cho sinh sản có ngoại hình và màu sắc đặc trưng, khỏe mạnh và kích thước đạt yêu cầu (chiều dài toàn thân > 11 cm, khối lượng 19 - 25 g/con). Cá được nuôi vỗ trong ao đất với thức ăn cá tạp cho đến khi thành thục sinh dục.

3 loại chất kích thích sinh sản (CKTSS) thường được sử dụng trong sinh sản nhân tạo cá là tuyến não thùy cá chép (FPG) dạng bảo quản trong acetone, kích dục tố nhau thai người (HCG) và chất đồng dạng hormone giải phóng kích dục tố (LHRHa).

THÍ NGHIỆM

Thí nghiệm 1: Đánh giá khả năng kích thích cá chốt bông sinh sản của các chất kích thích sinh sản khác nhau

TN1 được thực hiện với các CKTSS khác nhau FPG, HCG và LHRHa, áp dụng phép tiêm 2 liều với cùng một loại CKTSS cho cá cái. Thời gian giữa 2 lần tiêm liều sơ bộ và liều quyết định là 8 giờ. Cá đực được tiêm cùng loại CKTSS với cá cái và được tiêm 1 lần cùng lúc với lần tiêm quyết định cho cá cái. Liều sơ bộ là 2 mg/kg FPG, 500 UI/kg HCG và 40 µg/kg LHRHa, và liều cho cá đực khoảng 1/3 tổng liều cho cá cái. Số lượng các nghiệm thức (NT) và liều lượng của lần tiêm quyết định cho cá cái được trình bày ở Bảng 1. Ở mỗi NT sử dụng 10 cá cái, lặp lại 3 lần. Sau khi tiêm CKTSS, cá được giữ trong các bể kính (0,8 × 0,5 × 0,5 m) có sục khí nhẹ.

Bảng 1. Số lượng các NT và liều CKTSS trong TN đánh giá khả năng kích thích cá chốt bông sinh sản

bang_1

Sau khi tiêm liều quyết định 10 giờ và được giữ ở nhiệt độ nước 28°C, tiến hành vuốt trứng cá cái ở cùng một NT và 1 lần lặp lại vào một chén sạch. Tất cả trứng được gieo với tinh dịch của 1 cá đực theo phương pháp gieo tinh bán khô. Sau khi gieo tinh, trứng được cho dính trên giá thể là lưới nylon và ấp trong bình weis có nước chảy liên tục. Ở mỗi đợt gieo tinh, lấy khoảng 200 trứng giữ trong bình thủy tinh có sục khí để tính toán tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột.

Thí nghiệm 2: Xác định thời điểm thích hợp để vuốt trứng và gieo tinh nhân tạo của các chất kích thích sinh sản khác nhau

TN2 được thực hiện với các CKTSS khác nhau FPG, HCG và LHRHa. Phương pháp tiêm CKTSS cho cá bố mẹ của TN2 giống như TN1. Liều quyết định cho cá cái là liều tối ưu trong TN đánh giá khả năng kích thích cá chốt bông sinh sản và liều cho cá đực khoảng 1/3 tổng liều cho cá cái. Số lượng các NT và thời điểm vuốt trứng và gieo tinh nhân tạo được trình bày ở Bảng 2. Ở mỗi NT sử dụng 10 cá cái, lặp lại 3 lần. Sau khi tiêm CKTSS, cá được giữ trong các bể kính có sục khí nhẹ.

Bảng 2. Số lượng các NT và thời điểm vuốt trứng và gieo tinh nhân tạo cho cá chốt bông của các CKTSS

bang_2

Sau khi tiêm liều quyết định và được giữ ở nhiệt độ nước 28°C, ở những thời điểm xác định sau khi tiêm liều quyết định, tiến hành vuốt trứng của cá cái ở cùng NT và 1 lần lặp lại vào chén sạch và tiến hành gieo tinh giống như TN1. Phương pháp lấy mẫu để tính toán tỷ lệ thụ tinh, tỷ lệ nở và tỷ lệ sống của cá bột cũng giống TN1.

Trong các TN này, kết quả đo các chỉ tiêu môi trường của bể đẻ, bể ấp và bể ương như sau: nhiệt độ 28 - 31°C, pH = 7 và DO > 4 mg/L. Các yếu tố môi trường thích hợp cho sự sinh sản của cá bố mẹ và sự phát triển của phôi và ấu trùng cá chốt bông.

Kết quả nghiên cứu

KHẢ NĂNG KÍCH THÍCH SINH SẢN CỦA CÁC CHẤT KÍCH THÍCH SINH SẢN

Bảng 3. Các chỉ tiêu sinh sản của cá chốt bông được kích thích sinh sản với FPG, HCG và LHRHa

bang_3

Kết quả cho thấy liều quyết định tối ưu với FPG là 10 mg/kg cá cái, với HCG là 4.000 IU/kg cá cái, với LHRHa là 120 µg/kg cá cái.

THỜI ĐIỂM THÍCH HỢP ĐỂ THU TRỨNG VÀ GIEO TINH NHÂN TẠO

Bảng 4. Các chỉ tiêu sinh sản của cá chốt bông ở những thời điểm thu trứng và gieo tinh nhân tạo khác nhau khi kích thích sinh sản với FPG, HCG và LHRHa

bang_4

Kết quả cho thấy thời điểm thích hợp để thu trứng và gieo tinh nhân tạo khi kích thích cá chốt bông sinh sản với FPG có thể là từ 9 giờ, với HCG là 9 - 10 giờ, với LHRHa là 10 - 11 giờ.

PHÁT TRIỂN PHÔI

Trứng cá chốt bông khi trương nước có đường kính trung bình 1,11 ± 0,05 mm. Thời gian phát triển phôi tính từ khi trứng thụ tinh đến khi cá nở ở nhiệt độ 28 - 30°C là 19 - 21 giờ.

hinh_1

Hình 1. Các giai đoạn phát triển phôi của cá chốt bông (kích thước phôi và ấu trùng cá không theo tỷ lệ)

Kết luận

Với phép tiêm 2 lần, FPG, HCG và LHRHa đều có tác dụng gây rụng trứng và kích thích cá chốt bông sinh sản với liều quyết định tối ưu của FPGlà10mg/kg,củaHCGlà4.000IU/kgvàcủa LHRHa là 120 µg/kg cá cái. LHRHa là CKTSS thích hợp hơn để kích thích cá chốt bông sinh sản nhân tạo so với FPG và HCG.

Thời gian thích hợp để vuốt trứng và gieo tinh nhân tạo khi kích thích sinh sản cá chốt bông là từ 9 giờ với FPG, 9 - 10 giờ với HCG và 10 - 11 giờ với LHRHa.

Cá chốt bông thuộc nhóm khó kích thích sinh sản. Liều 120 µg/kg cá cái của LHRHa và thời điểm vuốt trứng và gieo tinh từ 10 - 11 giờ là thích hợp để có kết quả cao nhất khi sinh sản nhân tạo cá chốt bông.

Cần phát triển một phương pháp tin cậy nhằm đánh giá mức độ sẵn sàng sinh sản của cá chốt bông trước khi áp dụng các CKTSS để nâng cao kết quả sinh sản.

Nguồn: Khoa Thủy sản – Đại học Nông Lâm TP. HCM

Ý kiến bạn đọc