HỆ THỐNG CHO TÔM ĂN TỰ ĐỘNG BẰNG PHẢN HỒI ÂM THANH

  • Thứ tư, 13/05/2020, 14:58 GMT+7
  • Lượt xem: 49

Mục tiêu là thiết lập một giao thức cho ăn theo tiêu chuẩn mới

tom

Hình 1. Tôm thẻ chân trắng thu hoạch từ các ao thí nghiệm

Thức ăn cho tôm là chi phí biến đổi quan trọng nhất, là nguồn dinh dưỡng và cũng là nguồn tạo ra chất thải sinh học trong các hệ thống bán thâm canh và thâm canh. Mặc dù hiện tại thức ăn có sẵn thường được coi là đầy đủ, có một số nghiên cứu tập trung vào tối ưu hóa dinh dưỡng tôm thông qua công thức thức ăn hoặc chế độ cho ăn. Cũng như các loài khác, có nhiều nghiên cứu và báo cáo xác nhận khả năng sản xuất với các loại thức ăn từ đậu nành ít tốn kém hơn, bền vững hơn. Tuy nhiên, quản lý thức ăn là sự kết hợp của hàm lượng dinh dưỡng và cơ chế cho thức ăn. Trong khi nhiều nghiên cứu tập trung vào dinh dưỡng và công thức thức ăn, ít chú trọng vào cách cho ăn. Do đó, nhóm của chúng tôi tập trung vào việc cải tiến các kỹ thuật quản lý thức ăn bằng nhiều phương thức khác nhau.

Để tối ưu hóa các phương pháp cung cấp thức ăn, điều cần thiết là phải hiểu hành vi ăn tự nhiên của tôm. Tôm là những động vật sống đáy có khả năng lưu trữ thức ăn ăn vào hạn chế, điều này dẫn đến việc thích ăn một lượng nhỏ thức ăn cho nhiều lần. Reis và cộng sự. (2019) đã báo cáo rằng khi sử dụng các hệ thống cho ăn tự động, tốc độ tăng trưởng cao hơn với lượng thức ăn tăng.

Hiện nay, nhiều trại nuôi tôm trên toàn cầu vẫn dựa vào lao động của con người để nuôi tôm, do đó việc tăng số lượng bữa ăn thường dẫn đến chi phí lao động cao hơn. Hơn nữa, tôm thẻ chân trắng tự nhiên cho ăn vào ban đêm, điều này có thể làm phức tạp hóa việc quản lý hơn nữa. Vấn đề này đặc biệt quan trọng ở Trung Mỹ nơi chi phí nhân công cao hơn các khu vực sản xuất tôm khác như Đông Nam Á.

Sử dụng máy cho ăn tự động là một giải pháp để tăng số lượng bữa ăn mà không ảnh hưởng đến chi phí lao động. Bộ dữ liệu hẹn giờ đã được ngành công nghiệp tôm sử dụng trong hơn một thập kỷ nhưng gần đây công nghệ cho ăn phản hồi âm thanh đã được phát triển và đưa ra thị trường. Đây là một loại hệ thống cho ăn theo yêu cầu tích hợp hoạt động của tôm ghi âm trực tiếp như là yếu tố để xác định khi nào nên cho ăn. Ulman và cộng sự. (2019) và Reis et al. (2019) đã báo cáo tăng trưởng nhanh hơn và giá trị sản phẩm cao hơn cho hệ thống bán thâm canh sử dụng hệ thống cho ăn phản hồi âm thanh (Hệ thống AQ1).

Thiết lập nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện tại Bộ Bảo tồn Tài nguyên thiên nhiên Alabama, Trung tâm nuôi trồng thủy sản Claude Peteet, Gulf Shores, Alabama (Hoa Kỳ). Ấu trùng tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) được nuôi trong hệ thống nhà kính. Hậu ấu trùng tôm sau đó được thả vào 16 ao ngoài trời, rộng 0,1 ha với mật độ 35 con/m2.

Quản lý cho ăn

Tất cả các ao thử nghiệm được cung cấp 2 chế độ ăn giống nhau: Chế độ ăn thương mại 1.5 – mm (40% protein thô, 9% lipid thô) trong 4 tuần đầu tiên và chế độ ăn ZBI 2.4 - mm (35% protein, 8% lipid và được cho ăn từ tuần thứ 5 trở đi). 4 chế độ thử nghiệm đã được thiết lập để đánh giá hiệu suất tăng trưởng của tôm theo các quy trình cho ăn khác nhau. Tất cả các ao thử nghiệm đều được cho ăn cùng một lượng 2 lần/ngày trong 30 ngày nuôi đầu tiên và sau đó bắt đầu quản lý thức ăn khác biệt trong suốt chu kỳ.

3 chế độ hẹn giờ đã được sử dụng để phân phối 34 bữa ăn trải đều trong các lịch trình sau: Ban ngày (7 – 19h), ban đêm (19h – 7h sáng) và 24 giờ.

Chế độ thử nghiệm thứ 4 (AQ1) sử dụng hệ thống cho ăn phản hồi âm thanh theo yêu cầu tích hợp đầu vào âm thanh thông qua một hydrophone bên trong ao và cho ăn phù hợp. Hệ thống này cũng được trang bị cảm biến oxy hòa tan (DO) để tự điều chỉnh thêm cả cho ăn và sục khí cơ học. Mỗi chế độ thử nghiệm được nhân rộng trong 4 ao.

Lấy mẫu tôm và chất lượng nước

Tôm được lấy mẫu hàng tuần trong toàn bộ giai đoạn nuôi bằng lưới (bán kính 1,52 m; mắt lưới 0,96 cm) để thu thập khoảng 60 cá thể/ao. Lấy mẫu ao cho phép đánh giá tăng trưởng và kiểm tra sức khỏe nói chung. Ao được theo dõi (DO, nhiệt độ, độ mặn và pH) ít nhất 3 lần/ngày, lúc mặt trời mọc (5h – 5h30), chiều (14h – 14h30) và tối (19h – 20h). Oxy hòa tan (DO) được duy trì trên 3 mg/L.

Kết quả và thảo luận

Tốc độ tăng trưởng (g/tuần) cho thử nghiệm này được trình bày trong Biểu đồ 1 cho thấy sự tăng trưởng tốt hơn với việc sử dụng hệ thống phản hồi âm thanh (AQ1).

bieu_do_1

Biểu đồ 1. Trọng lượng cá thể trung bình trong suốt chu kỳ nuôi

Việc sử dụng máy cho ăn tự động đã cho phép tăng trưởng nhanh hơn dẫn đến chu kỳ nuôi ngắn hơn, cuối cùng dẫn đến sản lượng tôm cao hơn.

bieu_do_2

Biểu đồ 2. Năng suất và lượng thức ăn sử dụng đối với các thử nghiệm

Mục tiêu chính của thử nghiệm này là thiết lập một giao thức cho ăn tiêu chuẩn mới, được thiết kế đặc biệt cho các bộ nạp hẹn giờ tự động. Dựa trên kết quả của thử nghiệm này và dữ liệu được công bố trước đây trong các điều kiện thí nghiệm giống hệt nhau (Ullman et al. 2019; Reis et al. 2019) và các kết quả được trình bày trong nghiên cứu này, rõ ràng rằng các nguồn cấp dữ liệu theo yêu cầu âm thanh là hiệu quả nhất và dẫn đến năng suất cao hơn.

Theo báo cáo của Jescovitch et al. và Ullman et al. (2019) và Reis et al. (2019), sự kết hợp của chế độ ăn tối ưu hóa đậu nành và các giao thức quản lý thức ăn đầy đủ trong các công nghệ cho ăn tự động dẫn đến tăng trưởng và năng suất tốt, bao gồm cả trong thử nghiệm này. Sự đa dạng của các hệ thống sản xuất trong nuôi tôm làm cho hầu như không thể đưa ra kết luận chính xác về việc mất bao lâu để chi phí đầu tư vào máy cho ăn tự động có thể được thu hồi. Tuy nhiên, rõ ràng những công nghệ này là một công cụ cực kỳ hữu ích để đạt được năng suất cao hơn và tạo ra một sản phẩm có giá trị hơn.

Nguồn: www.aquaculturealliance.org

Lược dịch: Trần Thị Thúy Quyên

Ý kiến bạn đọc