GIẢI PHÁP THAY THẾ ETHOXYQUIN

  • Thứ hai, 09/03/2020, 11:13 GMT+7
  • Lượt xem: 278

Mới đây, Công ty Borregaard của Na Uy đã phát triển sản phẩm chứa hỗn hợp Propyl Gallate, Acid Lignosulphonic và Acid Formic có khả năng thay thế Ethoxyquin, mở ra lối thoát cho nhiều hãng dinh dưỡng thủy sản.

Propyl Gallate có thể thay thế Ethoxyquin làm chất kháng oxy hóa trong các phụ gia ủ chua. Borregaard đã phát triển một phụ gia men ủ chua chứa Acid Formic/ Lignosulphonic và Propyl Gallate cho ngành thủy sản. Sản phẩm này mang lại những lợi ích sau: Dung dịch không chứa Ethoxyquin; Giảm sự phân hủy của các chất chống oxy hóa; Thời hạn sử dụng các phụ gia ủ chua kéo dài hơn; Cá ủ chua ổn định, chất lượng cao.

Hiện có nhiều phương pháp khác nhau để đánh giá khả năng chống oxy hóa nhưng phương pháp DPPH-Assay là phổ biến nhất. Borregaard sử dụng DPPH trong nhà (2,2 – Diphenyl – 1 – Pirylhydrazyl) dựa theo phương pháp BAU.

Untitled

Cá ủ chua

Cá ủ chua chứa cá, các bộ phận của cá, kết hợp với một phụ gia để ổn định chất ủ chua trong quá trình bảo quản. Phụ gia ủ chua thường là các loại acid hữu cơ khác nhau. Trong điều kiện thích hợp, nhiệt độ 5 - 40°C và pH 3,5 – 4,5, hỗn hợp cá bắt đầu phân hủy. Trong quá trình tự phân, các enzyme phá vỡ các cơ thịt cá, hình thành hỗn hợp chất lỏng. Chất béo cá chứa hàm lượng cao chuỗi acid béo không bão hòa đa (PUFA). Các PUFA rất dễ bị oxy hóa, gây ra mùi ôi thiu từ chất béo và dầu, làm giảm chất lượng sản phẩm. Bột cá và dầu cá chứa nhiều PUFA nên càng dễ oxy hóa.

Để ngăn chặn sự oxy hóa của PUFA trong bột cá và dầu cá, các hãng thức ăn đang sử dụng chất chống oxy hóa tổng hợp như Ethoxyquin (E324), BHA (Butylated Hydroxy – Anysole, E – 320) và BHT (Butylatd Hydroxy Toluene, E321). Ngoài ra, các chất kháng oxy hóa tự nhiên như Vitamin E (Tocopherol) cũng được sử dụng nhưng giá cao.

Sàng lọc kháng oxy hóa

Những chất đã được chứng minh khả năng chống oxy hóa trong thức ăn chăn nuôi không có nhiều. Borregaard đã phải nghiên cứu cả chất kháng oxy hóa tổng hợp lẫn tự nhiên trước khi tìm ra một sản phẩm phù hợp nhất và khả năng kháng oxy hóa của từng chất được kiểm nghiệm bằng phương pháp BAU.

BAU là phương pháp quang phổ kế sử dụng các gốc tự do ổn định để so sánh khả năng chống oxy hóa của Lignosulphonate và các chất kháng oxy hóa. Qua sàng lọc, Borregaard cho biết BHA, Propyl Gallate và Acid Ascorbic (Vitamin C) đều có khả năng chống oxy hóa rất cao. Tuy nhiên, Propyl Gallate tan tốt và ổn định hơn nên Borregaard sử dụng chất này để đánh giá thêm khả năng kháng oxy hóa.

Lignosulphonate và khả năng kháng oxy hóa

Lignin là một cao phân tử Polymer tự nhiên, yếu tố kết dính trong gỗ và đóng vai trò quan trọng trong vận chuyển nước, chất chuyển hóa và chất dinh dưỡng; nó hoạt động như một chất phủ bên ngoài và thực hiện nhiều chức năng cần thiết cho sự sống của cây. Các sản phẩm có nguồn gốc Lignin được sử dụng như chất phụ gia trong nhiều ngành công nghiệp và ứng dụng thương mại.

Borregaard đã cải tiến công thức hóa học, tạo ra sản phẩm Lignin đa năng và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực từ xây dựng, hóa chất, làm đường đến phụ gia thức ăn chăn nuôi. Lignin có đặc tính kháng oxy hóa. Đặc biệt, Lignosulphonate hòa tan trong nước có hiệu lực hiệp đồng với các chất chống oxy hóa. Lignosulphonate sẵn có như Acid muối Lignosulphonic. Các nhóm Phenoic và những kết cấu dễ oxy hóa khác trong Acid Linosulphonic có thể hoạt động như chất khử và làm ổn định các gốc tự do có khả năng gây hại. Năm 2008, Borregaard được cấp bằng sáng chế cho sản phẩm Lignosulphonic Acid làm chất chống oxy hóa.

Sự ổn định của Propyl Gallate trong các Acid hữu cơ

Borregaard đã thực hiện nghiên cứu về tính ổn định của Propyl Gallate trong Acid Formic 85% và Acid Formic 85% chứa 20% (w/w) Acid Lignosulphonic. Hàm lượng của các chất kháng oxy hóa trong các acid là 0,35% (w/w). Sự ổn định của các chất kháng oxy hóa được kiểm tra thường xuyên bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao kết hợp chống tia UV (HPLC – UV). Các kết quả nghiên cứu cho thấy dung dịch chứa Acid Lignosulphonic sẽ làm ổn định và bảo vệ Propyl Gallate tốt hơn dung dịch chỉ chứa Acid Formic. Cách phổ biến nhất để đo mức độ oxy hóa/ ôi thiu là đo trị số Preoxit (PV) và chỉ số Anisidine (AV). PV và AV đều là những chỉ số quan trọng và cần phải đánh giá cùng lúc. Đây là cách tính tổng giá trị oxy hóa TOTOX phổ biến nhất để đánh giá tổng thể chất lượng của dầu; TOTOX = PV*2 + AV.

Thử nghiệm cá ủ chua trong phòng thí nghiệm

Hỗn hợp Propyl Gallate và Acid Lignosulphonic được sử dụng để chuẩn bị cá ủ chua. Cắt nhỏ cá hồi và xay nhuyễn bằng thiết bị trong phòng thí nghiệm. Các dung dịch Acid khác nhau được chuẩn bị chứa:

  • 0,35% Propyl Gallate trong Acid Formic 85% + Acid Lignosulphonic.
  • 0,7% Propyl Gallate trong Acid Formic 85% + Acid Lignosulphonic.
  • 0,35% Ethoxyquin trong Acid Formic 85% + Acid Lignosulphonic.

Chú ý: Các dung dịch nói trên đều chứa 80% w/w Acid Formic 85% và 20% w/w Acid Lignosulphonic.

Cá xay được trộn với các dung dịch acid khác nhau và bảo quản trong thùng chứa dung tích 2L đặt trong thiết bị ổn định nhiệt độ 23°C. Các dung dịch Acid được cho thêm cá xay đến pH 3,5 – 3,6. Các mẫu dầu được chiết xuất từ cá xay được thu gom vào các thời điểm khác nhau sau 11 tuần, từ đó, phân tích để đánh giá độ ôi thiu qua các giá trị Preoxit và Anisidine. Tính acid trong cá ủ chua được kiểm soát trong ngưỡng pH < 4. Sau 6 tuần, cá ủ chua được ổn định bằng Propyl Gallate và Acid Lignosulphonic đều có giá trị TOTOX tương tự cá ủ chua được xử lý bằng Ethoxyquin.

Hà Linh (Theo Aquafeed)

Nguồn: thuysanvietnam.com.vn

Ý kiến bạn đọc