ĐÁNH GIÁ NGUỒN PROTEIN THỰC VẬT THAY THẾ BỘT CÁ TRONG KHẨU PHẦN ẤU TRÙNG TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

  • Thứ hai, 14/09/2020, 14:43 GMT+7
  • Lượt xem: 163

Kết quả cho thấy có thể thay thế 40% dựa trên hiệu suất tăng trưởng của tôm

BAI-PLs-Pic-0_1200

Tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) là một loài thủy sản quan trọng và là loài tôm nuôi quan trọng nhất trên thế giới, chủ yếu vì tốc độ tăng trưởng nhanh, khả năng chống chịu bệnh tật, khả năng chịu đựng với mật độ nuôi cao và nhu cầu protein trong khẩu phần tương đối thấp. Ngày nay, các yêu cầu về chế độ ăn ngày càng tăng và việc tối ưu hóa chế độ ăn bằng cách giảm thiểu sử dụng bột cá trong khẩu phần ăn trở nên cấp thiết.

Khi thay thế bột cá bằng một nguồn protein kinh tế hơn, điều quan trọng là không chỉ xem xét vấn đề giá cả mà còn xem xét các khía cạnh khác như giá trị dinh dưỡng, khả năng tiêu hóa, cảm giác ngon miệng và sự hiện diện của các yếu tố kháng dinh dưỡng.

Một trong những loại cây trồng thành công nhất từ nguồn protein thực vật trong thức ăn chăn nuôi là khô dầu đậu tương. Điều này là do hàm lượng protein cao (47%) và lipid (2,2%) cùng với giá thấp so với bột cá (400 - 500 đô/tấn). Tương tự như vậy, bột hạt mè cũng có nhiều ưu điểm giống như bột đậu nành nhưng có hàm lượng lipid cao hơn nhiều. Bột hạt vừng thường chứa khoảng 42% protein, làm cho nó tương đương với bột đậu nành; tuy nhiên, nó chứa gần 5 lần hàm lượng lipid ở mức 11,2%.

Trong những năm gần đây, người ta đã quan tâm đến việc sử dụng quá trình lên men để tăng tỷ lệ tiêu hóa của protein thực vật trên nhiều loài thủy sản quan trọng. Quá trình lên men giúp phá vỡ các chất đạm phức tạp hơn trong thực vật để dễ tiêu hóa hơn. Ví dụ, bột đậu nành lên men có khoảng 56% protein thô, trong khi bột đậu nành chưa lên men có 47%. Một lợi ích quan trọng khác trong các sản phẩm lên men là làm giàu vi khuẩn.

Nhiều công ty đã và đang tập trung vào sản xuất các sản phẩm protein thực vật lên men bằng nhiều loại vi sinh và quy trình khác nhau như lên men theo lô, liên tục, theo mẻ, kỵ khí, hiếu khí, bề mặt, chìm và lên men rắn. Do đó, điều quan trọng là phải điều tra ảnh hưởng của các nguồn protein thực vật lên men như những chất thay thế bột cá có thể có trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng.

Bài viết này báo cáo về một thí nghiệm kéo dài 7 tuần được thực hiện để đánh giá khô dầu đậu nành, khô dầu đậu nành lên men và khô dầu mè như những chất thay thế bột cá ở tôm thẻ chân trắng.

Thiết lập nghiên cứu

Ấu trùng tôm thẻ chân trắng được vận chuyển từ trang trại tôm ở Hàn Quốc và thả trong các bể hình chữ nhật 250 lít tại Trung tâm Nghiên cứu Dinh dưỡng Thức ăn & Thực phẩm (FFNRC, Đại học Quốc gia Pukyong, Busan, Hàn Quốc).

20 cá thể (0,7 ± 0,03 g) được thả ngẫu nhiên vào mỗi bể 21, 45 lít nhóm 3 con. Nước biển đã lọc với lưu lượng 1,3 lít mỗi phút được cung cấp vào mỗi bể trong một hệ thống bán tuần hoàn và nhiệt độ nước được duy trì ở 28 ± 1°C trong suốt thời gian thí nghiệm. Tôm được cho ăn 4 lần/ngày với 7% trọng lượng cơ thể trong 7 tuần thử nghiệm. Tổng lượng thức ăn được điều chỉnh tùy theo tỷ lệ chết và phân tôm được loại bỏ bằng cách siphon hàng ngày.

Bột cá, bột đậu nành, phụ phẩm gia cầm, bột huyết, bột thịt và xương, bột gan mực và bột gluten lúa mì được sử dụng làm nguồn protein trong công thức thức ăn thử nghiệm. Dầu cá được sử dụng làm nguồn lipid. 7 chế độ ăn được xây dựng để thay thế 20 và 40% bột cá bằng bột đậu nành (SB20 và SB40), đậu nành (ST20 và ST40), và bột vừng (SM20 và SM40). Soytide là một sản phẩm thương mại của bột đậu nành lên men với vi khuẩn Bacillus subtilis ở 37°C. Tất cả các thành phần được trộn đều và trộn bằng máy trộn điện. Dầu cá được thêm vào theo công thức thức ăn chăn nuôi. Hỗn hợp được đưa qua máy tạo viên có khuôn 0,2 cm. Các khẩu phần thí nghiệm đã chuẩn bị được làm khô trong phòng sấy trong 48 giờ sau đó được bảo quản ở nhiệt độ - 20°C.

Theo Mohanty (1999), sau 7 tuần thử nghiệm cho ăn, mỗi con tôm được đếm và cân trọng lượng trong mỗi bể nuôi và được lấy và đo để tính toán hiệu suất tăng trưởng bao gồm tăng trọng, tốc độ tăng trưởng cụ thể, hiệu quả sử dụng thức ăn, tỷ lệ hiệu quả protein và tỷ lệ sống.

Kết quả và thảo luận

Các chế độ ăn được chuẩn bị cho thí nghiệm này đã được tôm chấp nhận dễ dàng và hầu như không quan sát thấy thức ăn thừa trong bể sau 1 giờ cho ăn. Ngoài ra, tỷ lệ sống của mỗi bể vào cuối thí nghiệm là bình thường khi xét đến trọng lượng ban đầu của tôm và giai đoạn thí nghiệm. Dựa trên mức tăng trọng, tốc độ tăng trưởng cụ thể, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ hiệu quả protein, việc thay thế 20 và 40% bột cá bằng khô dầu đậu nành, bột vừng, hoặc bột đậu nành lên men không cho thấy sự khác biệt đáng kể so với nhóm đối chứng.

Tuy nhiên, hiệu suất tăng trưởng của tôm với sự thay thế 20% bột cá (ST20) bằng bột đậu nành lên men cao hơn đáng kể so với nhóm cho ăn bột vừng (SM20 và SM40).

Bột đậu nành thích hợp để thay thế bột cá trong thức ăn thủy sản do có hàm lượng protein cao, hàm lượng anino acid cân đối và giá cả chấp nhận được, nhưng một số yếu tố kháng dinh dưỡng có thể làm giảm giá trị dinh dưỡng của thành phần này và giảm tỷ lệ tiêu hóa. Quá trình lên men các thành phần thực vật có thể làm giảm các yếu tố kháng dinh dưỡng và tăng khả năng tiêu hóa. Sự khác biệt đáng kể được quan sát thấy với năng suất tăng trưởng của tôm ăn bột đậu nành lên men có thể là do loại bỏ một phần các yếu tố kháng dinh dưỡng và tăng khả năng tiêu hóa của các thành phần.

Các tác giả khác cũng so sánh tương tự các protein thực vật lên men và không lên men như bột đậu nành, dầu lạc, bột hạt cải và dầu hướng dương trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng. Kết quả cho thấy hệ số tiêu hóa rõ ràng hơn của bột đậu tương lên men và tỷ lệ tiêu hóa amino acid cao hơn.

Khô dầu đậu nành lên men làm tăng năng suất sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng so với khô dầu mè, mặc dù chúng tôi không quan sát thấy sự khác biệt lớn giữa nhóm khô đậu nành lên men và không lên men. Một lời giải thích khác cho hiệu suất tăng trưởng cao hơn của bột đậu nành lên men có thể là do các hợp chất probiotic B. subtilis có sẵn trong thành phần này.

Trong một nghiên cứu tương tự, khô đậu tương lên men với B. subtilis đã làm tăng hệ số tiêu hóa rõ ràng của protein thô đối với tôm thẻ chân trắng. Chế phẩm sinh học có thể có lợi cho tôm bằng cách loại trừ vi khuẩn gây bệnh và sản sinh một số enzym tiêu hóa có thể tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình tiêu hóa.

Tôm là một trong những loài thiếu khả năng miễn dịch thích ứng (còn được gọi là hệ thống miễn dịch mắc phải, một phần của hệ thống miễn dịch và bao gồm các tế bào chuyên biệt, hệ thống và các quá trình loại bỏ mầm bệnh bằng cách ngăn chặn sự phát triển của chúng) và do đó tình trạng sức khỏe của chúng phụ thuộc phần lớn vào đáp ứng miễn dịch không đặc hiệu.

Superoxidase Dismutase (SOD) và Lysozyme là các enzyme vô hiệu hóa các loại oxy gốc (hoạt động hóa học) và phá vỡ thành tế bào của các sinh vật gây bệnh. Kết quả đối với hoạt động SOD cho thấy giá trị cao hơn đối với tôm ăn bột đậu nành lên men (ST20 và ST40) so với 40% thay thế bằng cả bột đậu nành (SB40) và bột vừng (SM40). Kết quả này tương ứng với hoạt tính Lysozyme huyết thanh trong đó 20% khô dầu đậu nành lên men (ST20) cao hơn đáng kể so với 40% khô dầu đậu nành (SB40) và khô dầu mè (SM40). Và những kết quả này thống nhất với những phát hiện trước đó báo cáo các phản ứng miễn dịch không đặc hiệu được nâng cao của cá được nuôi bằng nguồn protein thực vật lên men.

Kết luận

Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng bột đậu nành, bột đậu nành lên men và bột vừng có thể thay thế 40% bột cá trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng, dựa trên năng suất tăng trưởng và hoạt tính của Lysozyme. Nhưng dựa trên hoạt động của Superoxide Dismutase, bột đậu nành và bột vừng có thể thay thế tới 20% bột cá và bột đậu nành lên men có thể thay thế tới 40% bột cá.

Nguồn: https://www.aquaculturealliance.org/

Dịch: Trần Thị Thúy Quyên

Ý kiến bạn đọc