ĐÁNH GIÁ BỘT HẠT LUPIN TRONG THỨC ĂN CHO TÔM THẺ CHÂN TRẮNG

  • Thứ năm, 14/05/2020, 14:52 GMT+7
  • Lượt xem: 370

Tác động lên tăng trưởng, tỷ lệ sống và kích thích hệ miễn dịch

lupin

Hình 1. Cây Lupin (trái), vỏ và hạt cây Lupin (phải)

Hơn một nửa số loài thủy sản nuôi được cho ăn theo công thức thức ăn, và một số nghiên cứu đã tập trung vào các protein - chủ yếu là các loại đậu như đậu Hà Lan, đậu Lupin và đậu Fava.

Một số giống Lupin khác nhau đã được thử nghiệm với các loài thủy sản khác nhau và với kết quả chung đầy hứa hẹn. Tỷ lệ tiêu hóa Lupin đã được chứng minh là cao hơn so với đậu nành khi nghiên cứu trên cá hồi. Bột hạt Lupin ép đùn cho thấy hệ số tiêu hóa tốt, đặc biệt là protein và năng lượng trên cá hồi và cá bơn, và có thể thay thế bột cá trong khẩu phần ăn của cá chẽm. Ít nhất 40% protein bột cá trong khẩu phần ăn của tôm sú (Penaeus monodon) có thể được thay thế bằng bột hạt Lupin (sử dụng trên cơ sở tương đương protein), mà không ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Và một nghiên cứu cho thấy Lupin Andean (Lupinus mutabilis) có thể thay thế ít nhất một nửa protein bột cá - tương đương với 1/3 protein tổng số - trong chế độ ăn của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) mà không ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng và hệ số chuyển đổi thức ăn. Tuy nhiên, thông tin về ảnh hưởng của các thông số trao đổi chất và miễn dịch cho đến nay vẫn còn thiếu.

Thiết lập nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong một hệ thống nuôi trồng thủy sản tuần hoàn (RAS) tại Trung tâm nghiên cứu nuôi trồng thủy sản, Viện Alfred Wegener ở Bremerhaven, Đức. Nghiên cứu được tiến hành trên 18 bể riêng biệt với hệ thống xử lý nước bao gồm bộ lọc cơ học, bộ tách protein, bộ lọc sinh học và xử lý Ozone. Trong quá trình thử nghiệm, các thông số vật lý trong nước được đo mỗi ngày (91,93 ± 4,95% đối với oxy hòa tan; 7,53 ± 0,11 đối với pH; nhiệt độ 26,11 ± 0,69 °C và độ mặn15,96 ± 0,53 g/L). Xác định nồng độ của các hợp chất nitơ 2 lần/tuần, với nồng độ trung bình NH3 là 0,27 ± 0,245 mg/L, Nitrate là 2,25 ± 3,692 mg/L và Nitrite là 122,71 ± 96,16 mg/L.

Ấu trùng tôm thẻ chân trắng (PL13, trọng lượng trung bình ~ 3 ± 0,5 mg, độ lệch chuẩn trung bình) được lấy từ một trại sản xuất tôm thương mại ở Florida (Hoa Kỳ) và được nuôi trong 7 tuần. Mỗi bể được thả với 25 cá thể với sinh khối trung bình trên một đơn vị là 90,22 ± 0,86 gram. Cho ăn có kiểm soát được duy trì trong 8 tuần và thí nghiệm được thực hiện trong 4 lần. Trọng lượng và chiều dài đã được ghi lại khi bắt đầu thí nghiệm, và sau 4 tuần và sau 8 tuần.

4 thí nghiệm với các chế độ ăn được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của tôm thẻ chân trắng trong nghiên cứu, xem xét hàm lượng năng lượng, protein và acid amin, thành phần lipid và acid béo, vitamin và khoáng chất. Khi cần thiết, các acid amin đơn (Methionine và Lysine) được thêm vào để cân bằng nhu cầu acid amin. Các chế độ ăn bao gồm nhóm đối chứng với bột cá là nguồn protein chính; chế độ ăn L10 và L20 (tương ứng 10% và 20% bột hạt Lupin thay thế bột cá); và L30 (30% bột hạt Lupin, thay thế hoàn toàn bột cá). Một chế độ ăn thương mại (Protein 390 g/kg, Lipid 90/kg, Tro 90 g/kg, chất xơ 15 g/kg) mà không bổ sung Lupin đã được thử nghiệm để so sánh.

Kết quả và thảo luận

Tỷ lệ sống trung bình của tôm trong tất cả các chế độ ăn bổ sung Lupin là 68,3 ± 7,3%. Đối với nhóm đối chứng là 63,0 ± 5,0%. Sau 8 tuần, trọng lượng của các nhóm khác nhau đáng kể tùy thuộc vào chế độ ăn (Bảng 1).

Chế độ ăn

Trọng lượng (ban đầu) (g)

Trọng lượng (kết thúc thí nghiệm) (g)

Tăng trọng (g)

Tốc độ tăng trưởng cụ thể (%BW/ngày)

Đối chứng

3.62 ± 0.05

10.37 ± 0.55

6.747

1.878

L10

3.61 ± 0.05

9.66 ± 0.58

6.044

1.756

L20

3.61 ± 0.02

8.53 ± 0.55

4.924

1.537

L30

3.60 ± 0.03

6.24 ± 0.61

2.644

0.984

Com

3.60 ± 0.00

9.50 ± 0.55

5.898

1.731

 

Bảng 1. Kết quả tăng trưởng của các thí nghiệm cho ăn với các chế độ khác nhau

Hoạt tính haemolymph phenoloxidase (PO) - một thành phần quan trọng đối với miễn dịch của tôm, được thể hiện trong Biểu đồ 1.

PO

Biểu đồ 1. Kết quả được lấy trên 6 mẫu tôm (Com) và 12 mẫu (Control, L10, L20, L30), lặp lại trong 3 lần. (a) Hoạt tính Phenoloxidase. (b) Nồng độ Glucose và Acylglyceride. (c) Số lượng tế bào máu khác biệt

Các protein thay thế bền vững vẫn là sự lựa chọn ưu tiên cho phát triển nuôi trồng thủy sản trong tương lai. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rõ ràng khả năng ứng dụng của bột hạt Lupin thay thế cho bột cá trong khẩu phần ăn của tôm thẻ chân trắng. Việc tăng hàm lượng Lupin vượt quá 100 g/kg (thay thế 40% bột cá) trong thức ăn gây ra sự suy giảm dần về hiệu suất.

Các thành phần mới trong thức ăn thủy sản, đặc biệt là các sản phẩm có nguồn gốc từ thực vật, có thể có tác động đến quá trình trao đổi chất của động vật nuôi, có thể không được biểu thị ở mức độ tăng trưởng mà biểu thị trong các thông số trao đổi chất. Dữ liệu từ nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng trong khi bổ sung 10% Lupin không có ảnh hưởng tiêu cực, việc tăng cường bổ sung với 20% và 30% dần dần làm suy yếu tình trạng sinh lý của tôm.

Kết quả của chúng tôi cũng cung cấp bằng chứng cho thấy việc đưa Lupin vào thức ăn có tác dụng điều chỉnh hệ thống miễn dịch của tôm với sự tăng cường tích cực của các tế bào máu và hệ thống phenoloxidase (PO) khi Lupin được đưa vào ở mức độ vừa phải (10%; Biểu đồ 1). Hầu hết các chế độ ăn được thiết kế dẫn đến hoạt động PO cao hơn một chút, nhưng nhóm được cho ăn bằng chế độ ăn L10 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong hoạt động PO so với chế độ ăn thương mại.

Quan điểm

Kết quả của chúng tôi cho thấy việc bổ sung bột hạt Lupin đã tách vỏ trong thức ăn cho tôm thẻ chân trắng không ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ sống, hiệu suất tăng trưởng hoặc các thông số trao đổi chất khi bổ sung hàm lượng lên đến 100 g/kg thức ăn, ngoài ra còn có tác dụng kích thích hệ miễn dịch. Hàm lượng cao (300 g/kg thức ăn) dẫn đến giảm hiệu suất tăng trưởng và ảnh hưởng tình trạng dinh dưỡng.

Nguồn: www.aquaculturealliance.org

Lược dịch: Trần Thị Thúy Quyên

Ý kiến bạn đọc