Thảo dược Physalis angulata đối với bệnh phân trắng trên tôm thẻ chân trắng

  • Thứ năm, 27/06/2019, 16:26 GMT+7
  • Lượt xem: 149

 

Tóm tắt: Tôm thẻ chân trắng là một trong những mặt hàng xuất khẩu hàng đầu trong ngành thủy sản. Tuy nhiên bệnh phân trắng gây chết tới 30 % và giảm tăng trưởng sản xuất. Bệnh phân trắng do sự tích tụ của một số vi khuẩn Vibrio trong ao nuôi và ruột tôm. Một trong những loại thảo mộc địa phương có khả năng chống đông máu, thuốc trị đái tháo đường, chống độc thường được sử dụng trong điều trị bệnh ở người là Physalis angulate được gọi là ciplukan. Mục đích của nghiên cứu này là để có được chiết xuất ciplukan có hoạt tính kháng khuẩn của Vibrio sp, và để phân tích tác dụng chống vi khuẩn của chiết xuất ciplukan trên vi khuẩn Vibrio từ tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh phân trắng.

Nghiên cứu này sử dụng mô tả và phương pháp thí nghiệm sử dụng một thiết kế khối ngẫu nhiên. Phương pháp thu thập dữ liệu đã được thực hiện ra ngoài thông qua quan sát trực tiếp của đối tượng nhiên cứu. Kết quả cho thấy chiết xuất của cây ciplukan chứa hoạt chất kháng khuẩn. Chiết xuất dung môi chloroform có hoạt tính kháng khuẩn tốt nhất với vùng ức chế 13mm trên khuẩn lạc vi khuẩn màu xanh và 16,5 mm trên khuẩn lạc vi khuẩn màu vàng có nguồn gốc từ tôm bị nhiễm bệnh phân trắng. Sự tập trung tốt nhất cung cấp vùng ức chế cao nhất khi thu được 10% chiết xuất chloroform.

  1. Giới thiệu

Bệnh phân trắng thường xuất hiện trong thời gian nuôi từ 30 – 80 ngày, dấu hiệu phân tôm trắng nổi trên bề mặt của nước, tôm giảm ăn, tăng trưởng chậm và chết từ từ.

Bệnh phân trắng có liên quan chặt chẽ với nhóm Vibrio spp. Các loại vi khuẩn được tìm thấy trong bệnh phân trắng bao gồm: V.parahaemolyticus (khuẩn lạc màu xanh), V. fluvialis (khuẩn lạc màu vàng), V. Vulnificus (khuẩn lạc xanh), V. mimicus (khuẩn lạc xanh), V. alginolyticusV. cholera.

Những nổ lực của người nuôi tôm để kiểm soát bệnh phân trắng gần đây là bằng cách kiểm soát sự phát triển của Vibrio trong cả nước ao nuôi và tôm. Một thay thế cho nhiều thành phần tự nhiên được tìm thấy xung quanh nuôi trồng thủy sản và y tế là Physalis angulate được gọi là ciplukan.

Ciplukan là một loại thảo mộc thường được tìm thấy ở nhiều nơi trong vùng nhiệt đới. Trong ciplukan chứa saponin, flavonoid, steroid, polyphenol, alkaloids, … Những thành phần tự nhiên này có hoạt tính kháng khuẩn khá tốt như là chống ung thư, chống loét, kháng khuẩn. Dựa trên một số tài liệu có thể thấy rằng cây ciplukan có tiềm năng như là một nguồn của các hợp chất hoạt tính sinh học hữu ích.

            Các hoạt tính của P. angulate L chiết xuất dầu là kháng khuẩn và kháng nấm với hoạt tính kháng nấm cao hơn.

Goztok, F, Zengin, F (2013) phát hiện ra rằng chiết xuất từ trái cây P. peruviana có tính kháng khuẩn và kháng nấm, tính chất có thể được sử dụng như một chất chống vi trùng trong việc phát triển các loại thuốc mới để kiểm soát bệnh truyền nhiễm.

Chiết xuất methanol từ P. angulate có hoạt tính kháng khuẩn chống lại Bacillus subtilis

Chiết xuất nước và ethanol từ P. angulate đã kìm hãm sự phát triển của Staphylococcus aureus và Escherichia coli

Thực hiện nghiên cứu để kiểm tra chiết xuất thực vật ciplukan chống lại Vibrio spp trong tôm bị bệnh phân trắng.

  1. Phương pháp và vật liệu

Các vật liệu được sử dụng trong nghiên cứu này là cây ciplukan

Nghiên cứu này thu thập ethanol, chloroform, n-hexan, ethylacetate, vi khuẩn vibrio từ tôm thẻ chân trắng bị nhiễm bệnh phân trắng.

Phương pháp được sử dụng là phương pháp mô tả và thiết kế thử nghiệm với Randomized thiết kế khối. Phương pháp mô tả được sử dụng để tìm ra các dung môi tạo ra chiết xuất ciplukan có thể ức chế sự phát triển của các chuẩn vi khuẩn gây bệnh phân trắng. Phương pháp thí nghiệm đã được sử dụng để xác định ức chế kháng khuẩn của chiết xuất được lựa chọn. Phương pháp điều trị được áp dụng là tìm ra nồng độ sự khác biệt của chiết xuất ciplukan được thực hiện lặp đi lặp lại trong 4 lần với các nhóm khuẩn lạc màu xanh, màu vàng từ ruột và từ nước nuôi tôm bị nhiễm bệnh phân trắng.

Cây ciplukan thu thập được làm sạch hết bụi bẩn, tách thân, lá và rễ của cây và sấy khô. Sau khi làm khô được nghiền bằng máy xay và được lưu trữ kín. Tổng cộng có 50 gram bột ciplukan được bổ sung với hàm lượng N-hexan, chloroform, ethyl acetate và ethanol mỗi 500 ml, được lưu trữ trong hai ngày. Dịch chiết được tách ra từ bột giấy bằng cách lọc nó và sau đó sấy khô.

Phân lập vi khuẩn Vibrio spp thu được thông qua nuôi cấy vi khuẩn có nguồn gốc từ nước nuôi tôm và từ tôm bị nhiễm bệnh phân trắng. Các kết quả nuôi cấy được phân lập từ mỗi khuẩn lạc xanh và khuẩn lạc vàng để xét nghiệm kháng khuẩn và kiểm tra vùng ức chế.

  1. Kết quả và thảo luận
    1. Hoạt động chống vi khuẩn cho bệnh phân trắng

Thử nghiệm hoạt tính kháng khuẩn được sử dụng để xác định hoạt tính kháng khuẩn của từng chiết xuất thu được bởi dung môi N-hexane, Chloroform, Ethyle Acetate và Ethanol. Trong nghiên cứu này, các xét nghiệm kháng khuẩn đã được thực hiện ra chiết xuất từ lá và thân cây ciplukan chống lại vi khuẩn vàng và xanh phân lập từ ruột tôm và nước nuôi bị nhiễm bệnh phân trắng. Kết quả cho thấy mỗi trích xuất thu được có hoạt tính chống vi khuẩn khác nhau.

 

hinh_1-01

 

Hình 1: Kết quả xét nghiệm kháng khuẩn của chiết xuất từ thân và lá của Ciplukan chống lại vi khuẩn Vibrio Spp từ nước nuôi bị nhiễm bệnh phân trắng

Dựa trên kết quả xét nghiệm kháng khuẩn, người ta thấy rằng chiết xuất cho kết quả cao nhất hoạt tính kháng khuẩn là chiết xuất ciplukan với dung môi chloroform, sau đó là ciplukan ethyle acetate. Hoạt tính kháng khuẩn của chiết xuất ciplukan ở khuẩn lạc xanh tương đối thấp hơn so với màu vàng. Điều này là do khả năng gây bệnh của khuẩn lạc xanh cao hơn khuẩn lạc vàng.

hinh_2-01

Hình 2: Kết quả xét nghiệm kháng khuẩn của Ciplukan chiết xuất từ thân và lá chống lại vi khuẩn Vibrio spp từ ruột tôm bị nhiễm bệnh phân trắng

Dựa trên kết quả xét nghiệm kháng khuẩn, có thể thấy rằng chiết xuất cung cấp đủ cao tác dụng ức chế là chiết xuất với dung môi chloroform và ethyle acetate cả từ thân và lá. Vi khuẩn vibrio phân lập các khuẩn lạc màu xanh và khuẩn lạc màu vàng là kết quả của sự phân lập ruột và nước nuôi tôm bị nhiễm bệnh phân trắng. Vùng ức chế của khuẩn lạc màu xanh thấp hơn khuẩn lạc màu vàng. Điều này cho thấy sức đề kháng của vi khuẩn khuẩn lạc xanh là cao hơn so với các khuẩn lạc màu vàng. Vi khuẩn Vibrio ở khuẩn lạc xanh là vi khuẩn có khả năng gây bệnh trên tôm nuôi như: V. harveyjiV. parahaemolyticus. Trong khi các khuẩn lạc màu vàng là vi khẩn vibrio có khả năng lên men sucrose thành axit và làm giảm pH như V. cholera, V. alginolyticus.Có thể nói rằng chiết xuất của ciplukan với dung môi chloroform có khả năng ức chế hoạt động của Vibrio spp. Ức chế vi khuẩn vùng dưới 5 mm có hoạt tính ức chế yếu, vùng ức chế trong khoảng 5 – 10 mm là vừa phải, vùng ức chế từ 10 – 19 mm được phân loại là mạnh và vùng ức chế 20mm trở lên được coi là rất mạnh.

 

Hinh_3-01

 

Hình 3: So sánh vùng ức chế của chiết xuất ciplukan với dung môi Chloroform ở vi khuẩn Vibrio trên khuẩn lạc xanh và khuẩn lạc vàng

    1. Xét nghiệm vùng ức chế chiết xuất Ciplukan

Thử nghiệm ức chế chiết xuất ciplukian được thực hiện trên chiết xuất ciplukan bằng chloroform và dung môi ethyl acetate có hoạt tính chống vi khuẩn cao nhất so với các dung môi khác. Các thử nghiệm ức chế đã được thực hiện trên khuẩn lạc Vibrio màu xanh và khuẩn lạc màu vàng phân lập từ nước nuôi tôm và tôm bị nhiễm phân trắng.

Kết quả phân tích phương sai trên vùng ức chế của chiết xuất từ ciplukan với khác nhau nồng độ trên sự phát triển của vi khuẩn Vibrio spp cho thấy sự khác biệt về nồng độ rất lớn ảnh hưởng đến vùng ức chế của chiết xuất ciplukan. Nồng độ càng lớn theo sau tăng của vùng ức chế chiết xuất nồng độ lên đến 15 % và sau đó giảm. Ức chế tốt nhất vùng thu được ở nồng độ 5%

Dựa trên kết quả phân tích, dịch chiết được sử dụng cho thử nghiệm là chiết xuất ciplukan với dung môi chloroform cả từ thân và lá trên sự phân lập khuẩn lạc màu xanh và màu vàng trên nước nuôi tôm cũng như tôm bị nhiễm bệnh phân trắng.

    1. Thử nghiệm độc tính của chiết xuất ciplukan

Sự sống sót của tôm thẻ chân trắng sau khi ngâm trong chiết xuất chloroform ciplukan một lần trong một giờ cho thấy nồng độ 50% của chiết xuất chloroform ciplukan có tác dụng độc đối với tôm thẻ chân trắng là 50%. Trong khi đó nồng độ thấp hơn tương đối không độc hại vì sự sống sót thu được từ 83 – 100%. Do đó, có thể kết luận rằng chiết xuất chloroform ciplukan là an toàn để sửu dụng như một chất kháng khuẩn cho tôm nếu nồng độ thấp hơn 25% khi ngâm khoảng thời gian 1 giờ hoặc nồng độ 25 % với thời gian ngâm ít hơn 1 giờ.

  1. Kết luận

Nghiên cứu này cho thấy thảo dược ciplukan có chứa hoạt chất steroid, triterpenoids, tannin, flavonoid, alkaloids. Chất chiết xuất với dung môi chloroform và ethyl acetate có hoạt tính kháng khuẩn cao nhất với vùng ức chế 16,5 mm. Nồng độ tốt nhất ức chế mạnh là 10%, dẫn đến vùng ức chế 13 mm và không khác biệt với nồng độ 15 và 20%. Chiết xuất thảo dược Ciplukan độc hại ở nồng độ 50%.

 

Ý kiến bạn đọc