HIỆU ỨNG MÙA MƯA TRÊN AO NUÔI TÔM

  • Thứ năm, 22/11/2018, 11:00 GMT+7
  • Lượt xem: 268

Hiểu được những thay đổi về chất lượng nước và chất lượng đáy giúp quản lý rủi ro được hiệu quả

           Trong bài viết này (bài đã được chỉnh sửa và tóm tắt từ ấn phẩm gốc tại Revista Acuacultura - Cámara Nacional de Acuacultura, số 122, tháng 4 năm 2018), sẽ giải thích mưa lớn có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp như thế nào đến các ao tôm nuôi, tác động của chúng liên quan đến nhau như thế nào, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm ra sao, và những gì người nuôi tôm có thể làm gì để hạn chế những tổn thất liên quan đến hiện tượng khí hậu này.

Các dự báo mới nhất từ ​​Cục Hải dương học và Khí quyển Quốc gia Hoa Kỳ (NOAA) chỉ ra thời gian kéo dài của hiện tượng “La Niña” điển hình như: hạn hán và nhiệt độ thấp trên thế giới (Ecuador), dẫn đến sẽ tiếp tục có những mùa mưa lớn hằng năm. Câu hỏi được đặt ra: Những cơn mưa này có ý nghĩa gì và chúng ảnh hưởng đến ao nuôi tôm?

Có khả năng, những cơn mưa có thể gây thiệt hại nhiều cho tôm nuôi, mặc dù có một vài yếu tố khác (không liên quan đến yếu tố khí hậu này) ảnh hưởng đến tỷ lệ chết của tôm trong ao nuôi. Ở cả hai phía Nam Thái Bình Dương, tỷ lệ tử vong tôm nuôi đã được báo cáo là từ 3% đến 50% trong vòng 3 - 4 ngày mưa lớn.

Các biểu hiện bệnh ban đầu hầu như chưa thể phát hiện được. Các dấu hiệu điển hình cũng rất khó mô tả được những vấn đề sắp xảy ra.

             Lượng mưa ảnh hưởng trực tiếp đến các yếu tố vật lý và gián tiếp ảnh hưởng đến hệ sinh thái ao nuôi. Mưa không chỉ làm ảnh hưởng đến các yếu tố hóa học của ao tôm mà còn làm thay đổi đáng kể sự cân bằng hệ sinh thái của ao nuôi trong một thời gian dài.

Ảnh hưởng trực tiếp của mưa

           Mưa thường có nhiệt độ thấp hơn từ 50C đến 60C so với môi trường ao nuôi, một số khu vực có thể thấp hợp. Do sự tan rã của khí carbon dioxide (CO2), mưa có chứa một lượng axit carbonic với độ pH từ 6,2 đến 6,4 (ở các khu vực phi công nghiệp). Hai yếu tố vật lý này có xu hướng làm giảm nhiệt độ và độ pH của các ao tôm. Ngoài ra, do sự pha loãng nước mưa, độ mặn và độ cứng cũng giảm do sự giảm nồng độ ion trong môi trường.

Mưa sẽ trực tiếp làm thay đổi các yếu tố vật lý bao gồm: sự gia tăng chất rắn lơ lửng (TSS) do sự rửa trôi từ đất và bờ vào ao nuôi. Độ đục tăng cao hơn do mưa làm giảm lượng ánh sáng mặt trời và gây ra sự xáo trộn đột ngột của quần thể vi khuẩn quang hợp (Phototrophic Bacteria)

Sự hình thành lớp nước mặt (halocline) trong ao do mưa lớn làm thay đổi độ mặn trong ao

anh_huong_mua_1

Bảng 1: Ảnh hưởng của lượng mưa đến các thông số chất lượng nước (Theo Buike)

 

Tác động gián tiếp của mưa

         Một chuỗi các mắc xích bị thay đổi do sự khởi đầu của những cơn mưa. Sự sụt giảm quần thể vi tảo chỉ sau (hoặc trong) những cơn mưa. Sự sụt giảm pH (nước mưa có hàm lượng axit tương đối), giảm nồng độ khoáng chất và vi chất dinh dưỡng, tăng độ đục, giảm cường độ ánh sáng, vv... Sau đó, các quần thể vi khuẩn dị dưỡng – đóng vai trò phân hủy chất hữu cơ - tăng theo cấp số nhân do sự gia tăng các chất dinh dưỡng từ các tế bào tảo chết lắng xuống đáy ao.

         Tại thời điểm này, hàm lượng oxy hòa tan (DO) bị giảm liên tục. Nhu cầu oxy sinh học cao (BOD) bởi vi khuẩn dị dưỡng và hàm lượng CO2 sản sinh ra bởi sinh vật tự dưỡng (đã chết), dẫn đến tình trạng thiếu oxy trong một thời gian rất ngắn nếu không có biện pháp khắc phục kịp thời. Ngoài việc tiêu thụ oxy có sẵn, hô hấp do vi khuẩn tạo ra CO2 hòa tan trong nước và sẽ làm giảm pH nhiều hơn nữa. Dẫn đến hàm lượng DO, pH và nhiệt độ thấp tạo ra một môi trường rất bất lợi cho việc nuôi tôm. Trong điều kiện này cùng với một lượng lớn chất hữu cơ là điều kiện lý tưởng cho sự gia tăng với tốc độ nhanh của vi khuẩn. Đặc biệt nhóm vi khuẩn Vibrio spp thường chiếm ưu thế trong các điều kiện này, là một tác nhân gây bệnh ở tôm nuôi.

         Và trong những điều kiện này, tiềm năng oxy hóa / khử bùn có thể sẽ diễn ra âm thầm. Tất cả các hợp chất sẽ được giảm theo những điều kiện này. Trong điều kiện khử và pH thấp, hydrogen sulfide (H2S) cực kỳ độc hại đối với động vật giáp xác ở nồng độ mà thông thường sẽ không có vấn đề. Hydrogen sulfide (H2S) rất độc do sự can thiệp của nó vào quá trình oxy hóa và hô hấp hiếu khí. Hiệu ứng này được giới hạn ở khí H2S, vì ionHS- không thể hiện độc tính trong điều kiện nuôi bình thường.

Tác động đến sức khỏe tôm

Nhiệt độ

         Nhiệt độ môi trường có ảnh hưởng lớn đến tỷ lệ trao đổi chất của tất cả các sinh vật biến nhiệt (có nhiệt độ cơ thể biến đổi tương tự như nhiệt độ môi trường), và tôm là sinh vật như vậy. Thông thường, mức tiêu thụ thức ăn giảm khoảng 10% (trọng lượng khô) khi nhiệt độ giảm 10C. Bởi vì, mưa thường làm giảm nhiệt độ nước từ 30C đến 50C, điều này làm giảm tối thiểu 30% lượng tiêu thụ thức ăn.

          Khi mưa sẽ gây ra hiện tượng phân tầng nước trong ao. Cần loại bỏ ngay lớp nước mặt bằng phương pháp cơ học để tránh sự thay đổi lớn về nhiệt độ trong môi trường.

Ngoài việc tôm giảm ăn, phân tầng nhiệt độ sẽ làm cho tôm di chuyển đến các vùng ao có nhiệt độ và độ mặn cao hơn và khu vực có thể tránh xa âm thanh của mưa trên bề mặt ao. Dẫn sự gia tăng đáng kể mật độ tôm ở một số vùng ao sâu hơn, nơi nồng độ ôxy hòa tan thấp nhất và nồng độ khí độc tương đối cao. Nếu vẫn áp dụng lượng thức ăn như bình thường sẽ gây dư thừa thức ăn, vi khuẩn phân hủy lượng thức ăn thừa sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng ao nuôi do pH giảm và BOD tăng do hô hấp hiếu khí của quần thể vi khuẩn dị dưỡng.

 

Độ acid (pH)

         Lượng mưa có độ pH từ 6,5 - 6,7 ở vùng ven biển Ecuador và các ao nuôi tôm thường có giá trị từ pH 7,5 - 8,5, và mức giảm từ 0,3 - 1,5 thường xảy ra trong mùa mưa. Sự phá hủy đột ngột của quần thể thực vật phù du trong ao xảy ra, điều quan trọng cần lưu ý là độ mặn giảm kéo nhiều vấn đề khác trong ao nuôi, vi khuẩn lam chiếm ưu thế trong điều kiện độ mặn thấp.

          Tỷ lệ chết của thực vật phù du cung cấp một lượng lớn các loại đường đơn cho hệ sinh thái ao vì sự phân giải tự động phá vỡ thành tế bào và giải phóng tế bào chất vào trong nước. Trong vòng vài giờ, thường có sự gia tăng theo cấp số nhân của vi khuẩn dị dưỡng bắt đầu đồng hóa các loại đường. Năng lượng cho trao đất cần rất nhiều oxy trước khi chuyển sang giai đoạn kỵ khí, làm giảm quá trình trao đổi chất. Hô hấp hiếu khí cũng tạo ra CO2, sau khi thủy phân tạo thành axit cacbonic, sau đó làm giảm độ pH. Vì vậy, trong một thời gian ngắn sự gián đoạn pH gây ra bởi những cơn mưa có thể dẫn đến những vấn đề nghiêm trọng, nơi độ pH sẽ tiếp tục giảm cho đến khi các quần thể thực vật phù du có thể được phục hồi.

Oxy hòa tan

          Mức oxy hòa tan (DO) là yếu tố quan trọng nhất trong sản xuất tôm. Độ bão hòa của nó trong nước thấp hơn 25 lần so với không khí xung quanh cho cùng một nhiệt độ. Do đó, oxy hòa tan sẽ luôn là yếu tố hạn chế đầu tiên trong sản xuất hiếu khí sinh khối thủy sinh.

Mặc dù giảm nhiệt độ và độ mặn do mưa làm ảnh hưởng đến oxy trong ao, việc thiếu quang hợp sẽ là yếu tố quyết định liên quan đến mức DO trong ao. Điều này, kết hợp với sự gia tăng nhu cầu oxy sinh học (BOD) bởi vi khuẩn dị dưỡng và trong trường hợp không có bổ sung sục khí, có thể hạ thấp DO xuống mức nguy hiểm (≤ 3 ppm) trong vòng chưa đầy nửa giờ. Và mức DO thấp làm gia tăng vùng yếm khí dẫn đến việc sản sinh H2S độc hại cho tôm.

anh_huong_mua_2

Tôm bị đen mang một trong những biểu hiện độc tính của H2S

Nguồn: (Lightner 2001)

Độ mặn và độ cứng

         Cả độ mặn và độ cứng thường hàm lượng tồn tại dạng nồng độ ion hòa tan, vì vậy khi lượng nước ao tăng lên do mưa, nồng độ của tất cả các ion sẽ giảm.

Độ mặn không liên quan trực tiếp đến tỷ lệ chết của tôm; tuy nhiên, sẽ có tác động đáng kể ở mức độ cân bằng nội môi của động vật (tự động điều chỉnh nội bào ở trạng thái ổn định). Giai đoạn sau khi lột vỏ tôm liên quan đến sự hấp thụ hoạt động của các ion canxi và magiê từ môi trường của chúng để làm cứng vỏ ngoài của tôm, và quá trình lột vỏ không thể tiến hành khi thiếu các ion này. Do đó, sẽ có sự gia tăng đáng kể về ăn thịt đồng loại và chết liên quan đến nhiễm trùng do mầm bệnh cơ hội gây ra. Những trường hợp tôm chết mãn tính này thường không được nhận thấy cho đến vài tuần sau cơn mưa, điều này làm tình trạng ao thêm phức tạp.

Gió và sóng

       Gió tác động lên bề mặt của nước tạo ra sóng do chuyển động năng lượng từ không khí vào nước. Biên độ và bước sóng của sóng (các yếu tố xác định cường độ của năng lượng được truyền) phụ thuộc vào lực gió, thời gian thổi và "lấy" hoặc khoảng cách mà gió tác động lên mặt nước. Do đó, các ao lớn hơn tiếp xúc với gió mạnh trong thời gian dài sẽ có sóng lớn nhất.

        Khi bị phá vỡ, sóng chuyển năng lượng vào bờ ao. Kết quả dẫn đến sự xói mòn của bờ ao làm tăng độ đục của nước ao và làm giảm sự xâm nhập của ánh sáng mặt trời, làm chết hệ thực vật phù du và tất cả các vấn đề liên quan đến hệ quần thể vi tảo khỏe mạnh trong ao.

Một hiệu ứng khác là sự xáo trộn giữa lớp bùn bề mặt đáy ao sẽ làm giải phóng các khí độc H2S, NO2, vv.., gây ra các tác động độc hại cho tôm nuôi

 

Những việc cần thực hiện để làm giảm ảnh hưởng môi trường khi mưa lớn

Trước những cơn mưa:

• Làm sạch và mở rộng các kênh thoát nước. Trong một số trường hợp, có thể cần phải lắp đặt một trạm bơm ở một đầu kênh thoát nước để xả nước mưa khi mực nước sông vượt quá mức thoát nước.

• Đặt túi canxi cacbonat (CaCO3) ở mức 500 kg / ha. Khi trời mưa, cacbonat canxi hòa tan và xuyên qua các tầng nước, giúp duy trì độ pH và độ cứng trong các giá trị ao có thể chấp nhận được. Trong trường hợp xấu, nên sử dụng kali clorua (KCl) ở mức 100 kg / ha.

• Sửa chữa, tu bổ các khu vực xói lở lớn nhất trong ao.

• Đảm bảo hệ thống thoát nước, cống cơi vận hành thoát nước tốt khi mưa

• Kiểm tra tất cả các thiết bị sục khí để đảm cung cấp oxy cho ao nuôi

Trong những cơn mưa:

• Xả nước mặt

• Kiểm tra DO và pH, nếu pH giảm, dùng calcium carbonate để ổn định.

• Giảm lượng ăn bằng 70 % khẩu phần bình thường, và tiếp tục giảm nó theo nhiệt độ và hàm lượng DO.

• Bật hết thiết bị sục khí có sẵn có và duy trì mức DO > 4ppm.

• Theo dõi vi tảo ao bằng cách quan sát các mẫu bằng kính hiển vi - tế bào chết vẫn có thể có màu xanh lá cây. Tế bào tảo khỏe mạnh có một không bào trung tâm đầy đủ và không có sự tách biệt giữa thành tế bào và màng tế bào. Nếu một tảo chết xảy ra, có thể được ngăn chặn bằng cách trao đổi nước ao để giảm mật độ tế bào tảo và bằng cách tăng độ pH.

Sau những cơn mưa:

• Điều chỉnh dần lượng nước trong ao khi nhiệt độ tăng lên, miễn là giá trị pH và DO phù hợp. Đánh giá theo dõi sức khỏe, lượng tôm trong ao để có hướng chăm sóc hợp lý

• Thêm vitamin C, và muối kali, muối natri và magiê vào thức ăn trước khi cho ăn.

• Một số đề nghị bổ sung probiotics (các loài có khả năng phân hủy chất hữu cơ cao) với liều lượng cao để ngăn chặn sự thống trị của vi khuẩn không mong muốn. Vì chưa có thông tin tin cậy cho những công trình nghiên cứu khoa học về vấn đề này nên chưa thể đưa đưa ra lời khuyên hay không cho những việc làm này.

• Duy trì mức độ sục khí cao cho đến khi có một số lượng vi sinh vật ổn định mới trong ao.

Kết luận

Tác động tổng thể của lượng mưa lớn thường gây ra tỷ lệ chết của tôm ở những mức độ khác nhau. Sự suy giảm mật độ này có thể do một số nguyên nhân, chẳng hạn như thiếu oxy, nhiễm trùng thứ cấp, ăn thịt lẫn nhau, độc tính H2S và các vấn đề khác liên quan đến lột xác. Tỷ lệ tử vong này thường xảy ra từ hai đến ba ngày sau những trận mưa và cũng không có dấu hiệu rõ ràng của bệnh hoặc sự hiện diện của chim cò vv..

Vì vậy, điều rất quan trọng là người quản lý trang trại nuôi tôm hiểu các quy trình liên quan đến mưa lớn và được chuẩn bị để có những biện pháp thích hợp để hạn chế rủi ro kinh tế trong mùa mưa.

Lược dịch: Trần Thị Thúy Quyên

 

 

 

Ý kiến bạn đọc