Ảnh hưởng của pH nước lên sinh lý máu và màu sắc của cá Chốt Bông (Pseudomystus siamensis Regan, 1913)

  • Thứ ba, 22/10/2019, 09:18 GMT+7
  • Lượt xem: 74

     Nghiên cứu ảnh hưởng của pH nước lên sinh lý máu và màu sắc của cá chốt bông (Pseudomystus siamensis) với trọng lượng từ 4 - 6 g/con được tiến hành trong điều kiện thực nghiệm. Thí nghiệm được thực hiện trong 8 tuần với các giá trị pH khác nhau (3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11).

     Cá chốt bông (Pseudomystus siamensis) được mua từ trại cá giống khu vực TP.HCM và Tây Ninh. Cá dùng cho bố trí thí nghiệm có kích cỡ đồng đều, khoẻ mạnh và trọng lượng trung bình 5 – 6 g/con.

Ảnh hưởng của pH nước lên tỷ lệ chết tích luỹ của cá chốt bông

     Thí nghiệm được bố trí trong các bể kính và được bố trí 8 con/bể với trọng lượng trung bình từ 4 – 6 g/con.

     Theo dõi các hoạt động của cá và ghi nhận số cá chết ở các thời điểm 3; 6; 9; 12; 15; 18; 21; 24 giờ sau bố trí và vớt số cá chết ra để tránh ảnh hưởng đến cá thể sống khác. Qua đó xác định ngưỡng pH thấp và cao gây chết 50% cá sau 24 giờ.

Ảnh hưởng của pH nước lên sinh lý máu và màu sắc của cá chốt bông

     Thí nghiệm được thực hiện trong 8 tuần với 8 nghiệm thức ở các giá trị pH khác nhau (3; 4; 5; ..; 10). Mỗi nghiệm thức bố trí 50 cá với trọng lượng trung bình khoảng 4 – 6 g/con vào trong bể kính.

 

H1

Sơ đồ bố trí thí nghiệm

Kết quả

Ảnh hưởng của pH nước lên tỷ lệ chết tích luỹ của cá chốt bông

     Trong suốt thời gian thí nghiệm, các yếu tố môi trường nước tương đối ổn định và ít biến động do hệ thống thí nghiệm được kiểm soát chặt chẽ.

     Nhìn chung, các chỉ tiêu môi trường trong suốt quá trình thí nghiệm tương đối ổn định và nằm trong giới hạn thích hợp cho sự sinh trưởng và phát triển bình thường của cá.

Khả năng chịu đựng pH nước của cá chốt bông

     Khi pH trong bể tăng lên 11 thì cá có các triệu chứng như bơi nhanh, liên tục lên mặt nước; cơ thể mất cân bằng; da, mang và toàn thân cá được bao phủ bởi rất nhiều chất nhầy; mắt cá bị đục; cơ thể bị lộn ngược và chết trong vòng 3h sau khi tiếp xúc. Hiện tượng này có thể là do sự thay đổi đột ngột giá trị pH làm tăng quá trình tiết chất nhầy. Chất nhầy bám trên bề mặt mang làm ngăn cản quá trình trao đổi khí giữa máu và nước, dẫn đến cá khó hô hấp và chết.

     Ở giá trị pH = 10, lúc đầu cá cũng bơi nhanh sau đó giảm hoạt động bơi, cá lờ đờ, mắt cá đục, nằm im sát mặt đáy, một số cá trôi theo dòng nước do sục khí tạo ra, cá bắt đầu chết dần đến 50% sau 21h bố trí và 70,8% sau 24h.

     Ở các giá trị pH = 4, 5, 6, 7, 8, 9 không có hiện tượng cá chết sau 24h thí nghiệm. Tuy nhiên, ở giá trị pH = 8, 9 lúc bắt đầu thí nghiệm thì cá bơi nhanh, càng về sau cá chuyển động càng ít, nằm im sát mặt đáy, da tái nhạt.

     Ở giá trị pH = 3, cá tiết chất nhầy (ít hơn khi pH =11), lúc đầu cá bơi nhanh, sau đó giảm dần hoạt động và nằm im bất động sát mặt đáy, mắt cá đục dần, trên da có dấu hiệu lở loét và chết dần đến 54% sau 21h và 62,5% sau 24h.

 

H2

Tỷ lệ chết tích lũy của cá chốt bông trong 24 giờ

     Từ tỷ lệ chết của cá chốt bông ở các giá trị pH khác nhau trong 24 giờ, ngưỡng pH thấp và cao gây chết 50% cá chốt bông. Kết quả thí nghiệm cho thấy, cá chốt bông có khả năng chịu đựng được sự biến động của pH trong phạm vi rộng và nghiêng về môi trường acid.

Ảnh hưởng của pH nước lên một số chỉ tiêu sinh lý máu của cá chốt bông

Biến động số lượng hồng cầu

     Sau 6 giờ, số lượng hồng cầu đạt cao nhất tại nghiệm thức pH = 8. Tại pH = 5, 9 và 10 số lượng hồng cầu có giảm so với thời điểm trước khi bố trí thí nghiệm. Tại thời điểm 1 ngày sau thí nghiệm, mật độ hồng cầu tăng nhanh tại các nghiệm thức pH = 3, 9 và 10. Sự gia tăng về số lượng hồng cầu của cá có thể do hoạt động hô hấp gặp khó khăn dẫn đến tình trạng thiếu oxy nên cá phải đáp ứng bằng cách tăng số lượng hồng cầu để duy trì hoạt động hô hấp nhằm cung cấp oxy cho cơ thể. Qua đợt thu mẫu lần thứ 3, số lượng hồng cầu ở hầu hết các nghiệm thức đều giảm, thấp nhất tại pH = 10.

     Số lượng hồng cầu biến động theo trạng thái sinh lý của cá, theo giới tính, theo tuổi cũng như sự biến động của các yếu tố môi trường.

Biến động số lượng bạch cầu

     Số lượng bạch cầu tổng ở các nghiệm thức tăng dần qua các đợt lấy mẫu, tăng cao nhất tại tuần thứ 4 và thứ 6 sau thí nghiệm.

     Tại pH = 9 và 10, tổng bạch cầu tăng nhanh sau 1 ngày bố trí thí nghiệm, sau đó giảm mạnh tại thời điểm sau 3 ngày. Bạch cầu có liên quan đến quá trình điều hòa chức năng miễn dịch, khi sinh vật sống trong môi trường chịu ảnh hưởng của mầm bệnh hay các yếu tố stress thì cơ thể phản ứng lại bằng cách gia tăng số lượng bạch cầu để đáp ứng với stress. Sự gia tăng số lượng bạch cầu có thể tương quan với sự gia tăng sản xuất kháng nguyên giúp cá sống sót và phục hồi khi bị nhiễm độc. Tuy nhiên, nếu không thích nghi được với điều kiện sống mới, nhân tố gây stress kéo dài sẽ làm suy giảm hệ thống miễn dịch dẫn đến giảm số lượng bạch cầu. Sự có mặt của các loại tế bào bạch cầu có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình đáp ứng miễn dịch của cơ thể.

Ảnh hưởng của pH nước lên màu sắc của cá chốt bông

     Đánh giá cảm quan bằng mắt thường chỉ nhận thấy được sự khác nhau tại các nghiệm thức ở 2 cận pH thấp và cao mà ở đó cá không thể sống được. Mặt khác, tại các giá trị pH thấp thì toàn thân cá thường chỉ có 1 màu, đen hoặc nâu đen, các sọc trên thân cá thường không thấy hoặc thấy rất nhạt. Tại giá trị pH cao, các sọc trên thân cá được thể hiện khá rõ ràng, quan sát thấy các sọc màu vàng trên thân cá và rõ nhất là tại các vây. Tuy nhiên, tại giá trị pH = 10 và 11, cá không thích nghi được với môi trường nên chết hoàn toàn trước khi kết thúc thí nghiệm.

 

H3

Kết Luận

     Giá trị pH thấp nhất và cao nhất gây chết 50% cá chốt bông trong 24 giờ là 3,04 và 9,95. Sau 24 giờ thí nghiệm, mật độ hồng cầu và bạch cầu tăng nhanh tại các nghiệm thức pH = 3, 9 và 10, đạt cao nhất tại nghiệm thức pH = 3. Sau 8 tuần nuôi thì số lượng hồng cầu và bạch cầu tổng tăng cao nhất tại nghiệm thức pH = 8. Tỷ lệ sống của cá ở nghiệm thức pH = 6 đạt cao nhất sau khi kết thúc thí nghiệm. Trong môi trường pH càng cao thì màu sắc cá càng sáng và nghiêng về trục vàng.

Nguồn: Trường Đại học Nông lâm thành phố Hồ Chí Minh

 

 

 

Ý kiến bạn đọc